10

Phần Mềm Endnote và Hướng Dẫn Sử Dụng.

Phần mếm Endnote là một công cụ quản trị cở sở dữ liệu giúp lưu trữ và quản lý danh mục tài liệu trích dẫn/ tài liệu tham khảo. Đây cũng là công cụ tạo danh mục tài liệu tham khảo trong các bài viết. Endnote còn giúp chúng ta tìm kiếm tài liệu trực tuyến.

Các bạn click vao link sau để download phần mền Endnote và tài liệu hướng dẫn sử dụng.

http://www.ziddu.com/download/9405237/Thomson.Endnote.X3.v13.0.1.4261-RECOiL.rar.html

Hướng Dẫn Cài đặt Endnote
+ Giải nén file vừa download về
+ Sau khi giải nén xong. Trong folder Thomson.Endnote-x2.12.0.0.3210.Inc.Crack-NoPE vừa được giải nén sẽ có 2 phan. 1 phan la folder NoPE dung de crack va phan con lai la folder Setup dùng để cài đặt). Bạn vào folder Setup, chạy file ENX2Inst để cài đặt.

+ Crack software. Bạn cần phải copy file EndNote (file này ở trong folder NoPE),  bạn paste vào trong folder C:\Program Files\EndNote X3. (máy tính sẽ hỏi bạn: Would you like to replace the existing file... ban chon Yes).
+ Bạn đã cài đặt và crack thành công software EndNote.
read more "Phần Mềm Endnote và Hướng Dẫn Sử Dụng."
2

Robot giúp người già mua sắm

ột siêu thị ở thành phố Kyoto (Nhật Bản) đang thử nghiệm một loại robot có thể hỗ trợ người già và người tàn tật mua sắm


Robovie-II, tên của robot nói trên, là công trình của Viện nghiên cứu viễn thông tiên tiến quốc tế (ATR), sẽ được thử nghiệm ở siêu thị Apita-Seikadai từ nay đến tháng 3.2010 với sự tham gia của 20 cụ bà. Robovie-II được thiết kế nhằm mục đích làm cho việc mua sắm trở nên dễ dàng và thú vị hơn đối với người lớn tuổi.

Để sử dụng Robovie-II, trước hết người già phải nhập danh sách những thứ cần mua vào điện thoại di động được thiết kế đặc biệt. Khi đến siêu thị, Robovie-II - với chiều cao khoảng 1,2m - có thể nhanh chóng nhận dạng vị khách của mình thông qua một thiết bị cảm biến. Robot sẽ cầm giỏ đựng hàng hóa và đi cùng khách hàng đến các quầy hàng. Bên cạnh đó, bằng những mẫu thoại đơn giản và giọng nói the thé kiểu robot, Robovie-II có thể trò chuyện với người sử dụng về những món cần mua trong danh sách cũng như đưa ra những gợi ý mua sắm ngoài danh sách mua hàng.

Những người trẻ cũng có khi thu xếp thời gian để cùng ông, bà đi mua sắm ở siêu thị, nhưng chưa chắc họ có thể tự tay xách giỏ hàng như Robovie-II. Phụ tá mua sắm đặc biệt này không những có thể xách một giỏ đầy hàng hóa mà còn kiên nhẫn đi cùng với người già trong suốt cuộc mua sắm, điều mà đôi khi chúng ta có thể không làm được vì nhiều lý do khác nhau. “Tôi không cảm thấy mệt vì robot đã giúp tôi cầm giỏ. Tôi thấy vui khi nó dẫn mình đi quanh siêu thị và có cảm giác thú vị như khi trò chuyện với cháu của mình”, cụ bà Hasegawa, năm nay 67 tuổi, nhận xét về Robovie-II.

Robovie-II là một sự đóng góp nữa của giới nghiên cứu Nhật Bản cho xã hội nước này trong bối cảnh dân số đang già đi nhanh chóng và lực lượng lao động đang thu hẹp. Nó cũng chứng minh rằng robot đang có vai trò ngày càng đa dạng trong cuộc sống của người dân xứ mặt trời mọc.

(Theo Thanhnien Online)

read more "Robot giúp người già mua sắm"
0

Xe lăn hoàn toàn tự động

Xe lăn hoàn toàn tự động

Các chuyên gia Mỹ đang nỗ lực chế tạo một chiếc xe lăn có thể vận hành không cần sự hướng dẫn của con người hoặc kiểm soát từ xa.

Ảnh: Lehigh.edu

Từ nhận định tàn tật không phải là trở ngại cho tính cơ động, ông John Spletzer, giáo sư công nghệ máy tính và kỹ thuật (thuộc Đại học Lehigh) và là trưởng nhóm nghiên cứu, tin tưởng công nghệ mà nhóm đang nghiên cứu có thể đóng vai trò như chân, tay và mắt của người sử dụng, giúp họ phục hồi khả năng tương tác với môi trường.

Trong khuôn khổ dự án nghiên cứu kéo dài 5 năm với khoản tài trợ 480.000 USD của Quỹ Khoa học quốc gia Mỹ, nhóm nghiên cứu của ông Spletzer đã thiết kế một chiếc xe lăn dành cho việc di chuyển trên lề đường, trong công viên và các khu vực ngoài trời khác. Chiếc xe sử dụng tia laser, thiết bị cảm biến và phần mềm vẽ bản đồ để định vị và di chuyển một cách hoàn toàn tự động.

Tương tự như những chiếc xe thông minh khác được thiết kế trước đây, xe lăn mới nhất của giáo sư Spletzer sử dụng LiDAR (hệ thống sử dụng tín hiệu phản hồi của tia laser vào việc thăm dò địa hình) để phát hiện cây cối, cột điện, góc cạnh và những chướng ngại vật khác trong đời sống thực tế. Một điểm khác biệt quan trọng là chiếc xe mới sẽ “tham khảo chéo” các bản đồ mà nó tự vẽ về khu vực xung quanh bằng công nghệ LiDAR với những bản đồ 3D mà ông Spletzer và các cộng sự đã cài vào bộ nhớ của xe.

HIENDAIHOA.COM
read more "Xe lăn hoàn toàn tự động"
0

Điều khiển nhúng: kết hợp thời gian thực và môi trường làm việc đa năng

Hệ thống kiểm soát công nghiệp có thể được chia làm hai danh mục. Đó là thiết kế cho các chức năng kiểm soát đa năng và lập trình đầy đủ bởi người dùng cuối; Thiết kế cho các mục đích đặc biệt như điều khiển máy nghiền hoặc hệ thống đúc khuôn phun.


Đối với danh mục thứ nhất, một trong những hệ thống thường thấy là PLCs và các máy tính công nghiệp đa năng. Danh mục thứ hai sử dụng các bộ điều khiển riêng với khả năng hỗ trợ các chức năng đặc biệt được tích hợp bên trong, như điều khiển chu trình chuyển động kín. Cả hai hệ thống có thể thực hiện nhiều hơn một chức năng trong cùng một thời gian nhờ khả năng đa nhiệm – nhưng các bộ điều khiển riêng đặt các yêu cầu đặc biệt trên sự phối hợp của hệ thống với các tác vụ trùng nhau. Nơi mà các chức năng giới hạn thời gian liên kết, như là điều khiển và phối hợp chuyển động theo nhiều trục. Hệ điều hành phải đảm bảo những tín hiệu giới hạn thời gian từ các cảm biến theo dõi chuyển động không bị mất bởi các luồng ứng dụng điều khiển quan trọng.

Một hệ điều hành đa nhiệm như Microsoft Windows không thể đáp ứng thích đáng đảm bảo lưu trữ một ứng dụng, vì nó được tối ưu hóa để cung cấp dịch vụ cho nhiều tác vụ đa năng khác, như sự tương tác với người vận hành, giao diện mạng, cơ sở dữ liệu động cơ, …

Cánh tay đa năng này không tốt cho những yêu cầu thời gian của một ứng dụng điều khiển công nghiệp mà yêu cầu một hệ điều hành thời gian thực để đảm bảo sự phối hợp của những chức năng thời gian giới hạn. Nhưng đặc tính chuyên môn hóa cao hơn của một hệ điều hành thời gian thực cũng là một hạn chế nghiêm trọng. Một hệ điều hành đa năng như Windows có rất nhiều công cụ sản xuất bởi hãng thứ ba để làm giảm thời gian yêu cầu khi cài đặt màn hình giao diện điều hành, truy cập cơ sở dữ liệu, và truyền thông tin với mạng lưới giao thức. Trên thực tế, hầu hết nền tảng máy tính thông dụng cho việc phát triển trong các phần mềm tự động hóa công nghiệp là một chiếc PC, và máy PC – tương thích bộ vi xử lý chạy trên nền Microsoft Windows đã trở thành tiêu chuẩn giao diện người – máy (HMI – Human Machine Interface) phổ biến được sử dụng ngày nay. Ngoài ra còn có một cơ sở phát triển phần mềm dựa trên các ứng dụng PLC. Những ứng dụng “PLC mềm” phân phối chức năng điều khiển của PLC và mô hình lập trình PLC thông thường trong môi trường Windows.

Nhưng nhà phát triển hệ thống kiểm soát có thể làm gì khi họ muốn kết hợp thời gian thực và môi trường điều hành đa năng? Chạy nhiều hệ điều hành trong cùng một lúc trên một nền tảng phần cứng đơn.

Burny XL của Cleveland Motion Controls

The Burny XL gồm hai phiên bản : một phiên bản tích hợp hoàn toàn và một panen điều hành từ xa

Đây là giài pháp được chọn bởi Cleveland Motion Controls (CMC) của Cleveland. CMC tập trung vào việc cung cấp sao cho dễ dàng sử dụng các giải pháp kiểm soát hình dạng cắt động cho oxy nhiên liệu, plasma, laser và máy cắt bằng vòi phun nước, các công cụ định tuyến, khắc và định lượng. Máy tính mới nhất của hãng dựa trên điều khiển số máy tính (CNC) chính là Burny XL kết hợp với bộ xử lý di động của Intel. Hệ thống cung cấp cắt kim loại theo nhiều trục cực kỳ chính xác và điều khiển thời gian thực lặp lại, cùng với một hệ thống HMI phong phú và hữu ích đã làm cho hệ điều hành máy tính hoạt động với năng suất cao. Nó được thiết kế trở thành một nền tảng có thể cấu hình được mà người thiết kế máy tính CNC có thể tùy biến sản phẩm riêng của họ. Nó hoạt động trên môi trường thô và được phân thành hai loại: nền tảng kiểm soát hoàn toàn tích hợp, panen HMI, và một phiên bản panen từ xa.

Bằng cách sử dụng một phần mềm độc đáo ảo hóa môi trường được cung cấp bởi TenAsys Corp của Beaverton. Burny XL có thể chạy đồng thời trên Microsoft Windows XP cài sẵn và hệ điều hành thời gian thực TenAsys INtime (RTOS) trên một PC được cài sẵn. Điều này mang lại cho Burny XL khả năng đa nhiệm cho phép các công việc trong tương lai được tải, lưu trữ và lồng nhau bởi một bộ quản lý tác vụ trong khi công việc hiện tại đang được thực thi. Nhờ làm việc đa nhiệm mà Burny XL có lợi thế hơn so với các máy điều khiển CNC khác bằng cách rút ngắn thời gian lãng phí giữa các công việc. Việc bổ sung tạo điều kiện cho nhiều tác vụ làm việc đồng thời, INtime RTOS còn hỗ trợ đáp ứng trong thời gian thực mà đảm bảo rằng các bước chuyển động của CNC được thực hiện chính xác.

Nền tảng CNC cấu hình được

Khi người thiết kế máy CNC tùy biến Burny XL cho những sản phẩm riêng của họ, họ sử dụng một phần mềm cài sẵn – dựa trên PLC và giao diện màn hình cảm ứng thiết kế bởi Cleveland Motion Control. IEC 61131 này tương thích với các ứng dụng Windows có thể lập trình bằng hình thang logic và có thể dịch các mã “M” và “G” chuẩn của chương trình CNC. Phần mềm PLC cung cấp vị trí đích để đặt điểm khởi động cho phần mềm di động thời gian thực, và quản lý tất cả các hoạt động trực tiếp không theo thời gian thực. Một giao diện bộ nhớ chia sẻ thường là Windows hoặc INtime máy ảo hóa được sử dụng truyền các thông tin và dòng lệnh giữa phần mềm PLC và phần mềm điều khiển chuyển động giới hạn thời gian chạy đồng thời trên INtime RTOS (xem kiến trúc hệ thống).

Việc sử dụng bộ nhớ chia sẻ chỉ là một chi tiết bổ sung của hệ điều hành hỗ trợ ảo hóa cung cấp bởi môi trường TenAsys INtime. INtime cũng điều khiển các chức năng gián đoạn phần cững của các thiết bị vào ra để bảo đảm làm giảm thời gian giới hạn của những trường hợp như ấn vào màn hình cảm ứng điều khiển không bị gián đoạn các tác vụ thời gian thực như là điều khiển động cơ cắt của CMC. Bởi vì bằng cách này phần mềm ảo hóa TenAsys được cài đặt, Windows và phần mềm ứng dụng Windows chạy trên hệ thống mà không cần điều chỉnh.

Kiến trúc phần mềm của Burny XL thể hiện cách mà cả Windows XP và INtime RTOS từ TenAsys Corp được đưa vào trong một máy tính công nghiệp. Một kiến trúc máy ảo được cài đặt bởi phần mềm TenAsys cho phép cả hai hệ điều hành chạy độc lập với nhau.

Phụ thuộc vào chuyển động phần cứng được sử dụng bởi hệ thống CNC, hệ thống thời gian thực INtime lưu trữ một trong hai vòng lặp kiểm soát chuyển động. Nó có thể lưu trữ một vòng lặp 1 mili giây cho các thiết bị tương tự thông thường hoặc hai vòng lặp 1 mili giây điều khiển SERCOS (giao diện kiểm soát chuyển động số cấp cao).

Lợi ích của môi trường ảo hóa

Sử dụng phương pháp tiếp cận ảo hóa ứng dụng INtime và Windows chạy trong ba vòng bảo vệ (chế độ người dùng) trên bộ vi xử lý có kiến trúc Intel, hơn là chạy trong vòng không (chế độ người giám sát), như chạy ứng dụng trong nhiều hệ điều hành thời gian thực khác.

Lợi thế khác cho CMC sử dụng INtime RTOS là thực tế rằng các ứng dụng thời gian thực được phát triển và gỡ rối trực tiếp từ bên trong môi trường phát triển Microsoft Visual Studio, cũng giống như họ đã làm cho các ứng dụng Windows. Sử dụng một môi trường phát triển đơn bao gồm công cụ gỡ rối mã nguồn cho những phần thời gian thực và phi thời gian thực của một hệ thống lớn làm giảm thời gian yêu cầu tới mã cổng từ một hệ thống cũ đến INtime. Nó cũng giảm một cách đáng kể thời gian yêu cầu cho cả những phần thời gian thực và phi thời gian thực của một thiết bị làm việc cùng với nhau một cách trơn tru.

Bởi có hệ điều hành thời gian thực và liên kết chặt chẽ với Windows, CMC có một lộ trình phát triển để thêm các tính năng mới trong tương lai của các sản phẩm CNC. Hiện nay, Burny XL sử dụng một bộ vi xử lý Intel nhân đơn nhưng công ty đang tìm kiếm để chuyển hệ thống của nó sang nền tảng đa nhân. Điều này sẽ bổ sung thêm những cải tiến về hiệu năng bằng cách lấy những lợi thế của TenAsys hỗ trợ cho việc chạy INtime RTOS và Windows trên nhân xử lý riêng biệt.

Theo automation.net.vn

read more "Điều khiển nhúng: kết hợp thời gian thực và môi trường làm việc đa năng"
0

Điện hạt nhân: 75% vốn đi vay nước ngoài

Điện hạt nhân: 75% vốn đi vay nước ngoài (07-11-2009 09:35:46)

Trình bày chiều nay (6/11) trước Quốc hội chủ trương đầu tư dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, Bộ trưởng Công thương cho hay, dự kiến, 75% nguồn vốn lấy từ vốn vay nước ngoài.

Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng. Ảnh: TTXVN

Theo Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, tổng mức đầu tư sơ bộ được dự kiến theo 3 phương án tính toán dựa trên các suất đầu tư 2600, 2800 và 3000 USD/KW công suất.

Tương ứng, phương án thấp hết khoảng 10,297 tỷ USD; phương án trung bình là 11,150 tỷ USD; phương án cao là 12,217 tỷ USD.

Dự kiến, 75% nguồn vốn xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận được lấy từ vốn vay nước ngoài. Phương án huy động vốn cụ thể sẽ tiếp tục được nghiên cứu, tính toán kỹ hơn.

"Giải pháp tối ưu"

Báo cáo Chính phủ cũng nêu rõ sự cần thiết phát triển điện hạt nhân của Việt Nam.

Theo đó, nhu cầu năng lượng của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Nguồn năng lượng sơ cấp, ngoài tiềm năng than có thể gia tăng nguồn cung trong vài chục năm tới. Các tài nguyên năng lượng khác như thủy điện, dầu mỏ, khí đốt dự kiến được khai thác ở mức tối đa trong giai đoạn 2015 - 2020.

Như vậy, giải pháp tổng thể giữa sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên năng lượng trong nước, kết hợp với nhập khẩu điện, nhập khẩu than, khí đốt ở tỷ trọng thích hợp và việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân là giải pháp tối ưu.

Nhiệm vụ của dự án là cung cấp điện cho hệ thống điện quốc gia, bình quân một năm (ở giai đoạn vận hành đủ 4 tổ máy) sản xuất khoảng 28 tỷ Kwh.

Tổng quy mô công suất của dự án khoảng 4.000 MW với số giờ vận hành khoảng 7.000h/năm.

Chính phủ cũng đề xuất lựa chọn công nghệ lò nước nhẹ (LWR). Thế hệ lò được lựa chọn có thể là thế hệ II trở lên, theo nguyên tắc công nghệ hiện đại an toàn, đã được kiểm chứng và có hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, thế hệ lò cụ thể sẽ được xác định trong giai đoạn lập dự án đầu tư.

Nhiên liệu được sử dụng là urani làm giàu từ 2 - 4% nhập khẩu. Thời gian hoạt động của dự án từ 60 năm trở lên.

Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường QH Đặng Vũ Minh nhấn mạnh, cần lựa chọn công nghệ tối ưu cho công trình. Từ nay đến khi triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân, nếu lò nước nhẹ thuộc thế hệ lò thứ ba đang được xây dựng và đưa vào sử dụng tại một số nước trên thế giới được kiểm chứng có hiệu quả tốt, phù hợp với điều kiện giá thành thì nên chọn thế hệ lò thứ ba trở lên.

Nhà thầu phải thuộc quốc gia có tiềm lực cao

Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) cho thấy trong điều kiện làm việc bình thường, các tác động xấu tới môi trường xung quanh là không đáng kể.

Tuy nhiên, để giảm bớt hậu quả có thể xảy ra do sự cố, hiện nay đã có các công nghệ tiên tiến và các biện pháp kiểm soát, ngăn chặn để giảm thiểu mức ô nhiễm đến giới hạn cho phép.

Theo dự kiến, Nhà nước sẽ có chính sách đãi ngộ, tuyển chọn và đào tạo con em địa phương tham gia xây dựng và quản lý vận hành nhà máy.

Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường Quốc hội lưu ý, khi lựa chọn nhà thầu, phải đảm bảo nhà thầu đã có kinh nghiệm lâu năm trong việc thiết kế, chế tạo và xây dựng nhà máy điện hạt nhân, đã trúng thầu nhiều dự án và thuộc quốc gia có tiềm lực cao về công nghệ trong lĩnh vực này. Đồng thời có khả năng thu xếp tài chính và suất đầu tư hợp lý.

Cần có kế hoạch đào tạo ngay cán bộ, công nhân, kỹ sư lành nghề để tiếp cận ngay khi xây dựng nhà máy cũng như chuẩn bị nguồn lực để giám sát, kiểm tra và đánh giá độ an toàn.

Ngày mai, Quốc hội sẽ thảo luận tại tổ về dự án quan trọng này. Phiên thảo luận tại hội trường sẽ diễn ra vào chiều 13/11 và dự kiến Quốc hội sẽ biểu quyết vào cuối kỳ họp.

Theo tờ trình của Chính phủ, dự án điện hạt nhân Ninh Thuận sẽ góp phần đáp ứng mục tiêu tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết và đồng bộ để đưa tổ máy điện hạt nhân đầu tiên vận hành vào năm 2020.

Sau đó sẽ tăng nhanh tỷ trọng điện hạt nhân trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Đến năm 2050, năng lượng điện hạt nhân chiếm khoảng 15 - 20% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc. Đồng thời góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, đảm bảo giữ vững an ninh quốc phòng và phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ của đất nước.


Theo (hiendaihoa.com)

read more "Điện hạt nhân: 75% vốn đi vay nước ngoài"
0

Đầu tư cho năng lượng sạch tăng chưa từng thấy


Đầu tư cho năng lượng sạch tăng chưa từng thấy (07-11-2009 10:32:42)

Tập đoàn Năng lượng Tái sinh (REG) và Công ty Năng lượng gió Cielo Wind Power của Mỹ vừa ký thỏa thuận với Tập đoàn Điện lực Thẩm Dương (SPG) của Trung Quốc về phát triển một trang trại gió công suất 600 MW tại bang Texas, với khoản đầu tư trị giá 1,5 tỷ USD.

REG cho biết dự án năng lượng gió này sẽ thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ trong khu vực năng lượng tái sinh và trực tiếp tạo ra hàng trăm việc làm thu nhập cao cho người Mỹ. Dự án có thể cung cấp đủ điện cho 180.000 hộ gia đình tại bang Texas.

Cam kết từ chính phủ

Theo báo cáo của Hội đồng Năng lượng gió Toàn cầu (GWEC), ngành năng lượng gió thế giới trong năm 2008 đã đạt mức tăng trưởng 28,8%. Điện từ sức gió hiện chiếm khoảng 1,5% tổng sản lượng điện toàn cầu. Trên thế giới hiện có khoảng 80 quốc gia đang khai thác nguồn năng lượng gió với mục đích thương mại.

Xét về công suất của các cơ sở sản xuất điện năng từ gió, năm 2008, Mỹ đứng đầu thế giới với công suất lắp mới là 8.545 MW, đứng thứ hai là Trung Quốc với công suất 6.300 MW. Hai nước này chiếm 30% trong tổng sản lượng 120,8 GW điện gió của toàn thế giới trong năm qua.

Mỹ đã quyết định tham gia Cơ quan Năng lượng tái sinh Quốc tế (IRENA), coi đây là một phần trong cam kết của chính quyền Tổng thống Barack Obama về chính sách năng lượng mới.

Bộ Năng lượng Mỹ cho biết mục đích của việc chính quyền "rót" 3 tỷ USD cho các dự án năng lượng tái sinh là nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế các khu vực nông thôn và thành thị, khuyến khích đầu tư tư nhân vào lĩnh vực năng lượng sạch và tạo việc làm cho người lao động, đưa nước này hướng tới sự độc lập về năng lượng.

Chương trình năng lượng tái sinh sẽ cung cấp trực tiếp các khoản tiền thay cho các khoản tín dụng thuế nhằm hỗ trợ khoảng 5.000 cơ sở sản xuất năng lượng tái sinh từ rác thải sinh học, gió, mặt trời, và các loại năng lượng khác. Đây là một phần trong kế hoạch tăng gấp đôi nguồn năng lượng tái sinh và đảm bảo Mỹ sẽ dẫn đầu thế giới trong việc tạo ra một nền kinh tế mới dựa vào năng lượng sạch trong những năm tới.

Giai đoạn mới

Báo cáo của GWEC cho biết chi phí lắp đặt tua-bin trong năm 2008 vào khoảng 47,5 tỷ USD. Trong năm 2008, điện từ sức gió chiếm 42% sản lượng các nguồn năng lượng thay thế ở Mỹ và 1/3 ở châu Á.

Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc (UNEP) cho biết, khoản đầu tư toàn cầu cho nhiên liệu tái sinh trong năm 2008 đã lần đầu tiên vượt qua khoản đầu tư cho nhiên liệu hóa thạch. Bất chấp tình hình khủng hoảng kinh tế, thế giới đã đầu tư 155 tỷ USD cho các công ty sản xuất năng lượng sạch và cho những dự án năng lượng tái sinh, chủ yếu là năng lượng gió và năng lượng mặt trời. Dẫn đầu nỗ lực này là các nước công nghiệp phát triển và các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Trung Quốc.

Trung Quốc vừa khởi công xây dựng nhà máy sản xuất điện từ sức gió có công suất trên 12 triệu KW tại thành phố Tửu Tuyền thuộc tỉnh Cam Túc, với số vốn đầu tư 17,5 tỷ USD. Đây sẽ là nhà máy điện gió lớn nhất Trung Quốc khi hoạt động hết công suất vào cuối năm 2015.

Phó chủ nhiệm Ủy ban Cải cách phát triển Trung Quốc Trương Quốc Bảo cho biết, ngành sản xuất điện năng từ sức gió ở nước này đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, ngành này phải đối mặt với nhiều trở ngại như sự mất cân đối trong phân bố nguồn khai thác và thị trường, những khó khăn trong việc đưa dòng điện gió vào mạng lưới điện quốc gia và các nhà máy điện gió hiện nay có công suất nhỏ.

Do đó, việc xây nhà máy điện gió có công suất lớn ở Tửu Tuyền sẽ giúp phát huy tối đa hiệu quả sử dụng nguồn năng lượng từ sức gió ở Trung Quốc.

Trong khi đó, cơ quan bảo vệ môi trường tại Khu hành chính đặc biệt Hồng Kông (Trung Quốc) vừa thông qua dự án xây dựng một nhà máy sản xuất điện từ sức gió công suất 200 MW, với tổng chi phí đầu tư 903 triệu USD. Đây sẽ là nhà máy điện từ sức gió ngoài khơi lớn nhất về công suất của châu Á và dự kiến đi vào hoạt động trước năm 2014.

Nguồn (hiendaihoa.com)
read more "Đầu tư cho năng lượng sạch tăng chưa từng thấy"
0

Morocco sẽ sản xuất điện từ năng lượng mặt trời

Morocco sẽ sản xuất điện từ năng lượng mặt trời (06-11-2009 11:37:13)

Ngày 2/11, Morocco đã đưa ra một dự án sản xuất điện từ năng lượng mặt trời đầy tham vọng, với công suất lên đến 2.000 MW và có tổng vốn đầu tư là 9 tỷ USD.

Được thực hiện từ nay đến năm 2020 trên diện tích 10.000 ha, dự án này sẽ triển khai tại 5 địa điểm: Ouarzazate, Laayoune và Boujdour (Sahara), Tarfaya (phía nam của thành phố Agadir) và Ain Beni Mathar.

Theo Bộ trưởng năng lượng và mỏ, Anima Benkhadra, khi được thực hiện, dự án này sẽ giúp cho Morocco tiết kiệm được mỗi năm 1 triệu tấn dầu, tương đương với 500 triệu USD và giúp cho quốc gia này giảm được lượng khí thải là 3,7 triệu tấn/năm.

Năm 2020, khi chương trình này đi vào hoạt động sẽ đáp ứng được 42% nhu cầu về điện tại Morocco./.


Theo Hiendaihoa.com
read more "Morocco sẽ sản xuất điện từ năng lượng mặt trời"
0

Chế tạo cánh tay máy (05-11-2009 22:11:08)

Các kỹ sư Nhật đã chế tạo một loại cánh tay có bộ xương ngoài gắn với một bộ phận điều khiển, cho phép con người dễ dàng nâng những trọng lượng hơn 90kg, theo Japan Today ngày 2-11.

Cánh tay máy Dual-Arm Power Amplification Robot - Ảnh; WENN

Được đặt tên là Dual-Arm Power Amplification Robot, cánh tay máy bằng hợp kim nhôm này được Hãng Activelink có trụ sở tại Kyoto chế tạo. Được điều khiển bằng 18 động cơ điện từ với lực phản hồi trực tiếp, bộ phận điều khiển có thể kiểm soát các chuyển động của cánh tay, trong đó có việc thực hiện các thao tác tinh tế.

Một nhóm sáu kỹ sư, dưới sự hướng dẫn của Go Shirogauchi, đã nghiên cứu chế tạo cánh tay máy kể từ năm 2003 và dự kiến đưa vào sử dụng năm 2015. “Cánh tay máy này sẽ được sử dụng chủ yếu tại các vùng thảm họa, nơi các xe cộ chạy bằng bánh xe không thể hoạt động được nhưng có các vật nặng cần được di chuyển” - Shirogauchi nói. Ngoài ra, cánh tay máy này cũng sẽ được ứng dụng trong các nhà kho và trên các công trường xây dựng.

Tuy nhiên, giá của cánh tay máy này không rẻ, Shirogauchi dự kiến mỗi thiết bị như thế có giá lên đến 29 triệu yen (330.370 USD).

Lê Trường ( theo tuổi trẻ online )

read more "Chế tạo cánh tay máy (05-11-2009 22:11:08)"
0

Phương Pháp trình bày một bài báo khoa hoc

Chúng tôi xin gửi đến các bạn một bài viết tham khảo quý báu đăng trên tạp chí Tia Sáng của TS. Nguyễn Văn Tuấn, một trí thức Việt kiều nổi tiếng tâm huyết và uy tín trong lĩnh vực Sinh học và Y tế (Phần 1) và tác giả Triều Đông (Phần 2). Mong rằng bài viết sẽ cung cấp cho các bạn một số thông tin bổ ích về quy trình viết bài báo khoa học.

Phần 1 : Thế nào là bài báo khoa học ?

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, bài báo khoa học đóng một vai tròhết sức quan trọng. Nó không chỉ là sản phẩm tri thức, mà còn là một loại tiền tệ của giới làm khoa học, bởi vì qua đó mà người ta có thể đánh giá khả năng chuyên môn và năng suất khoa học của nhà nghiên cứu. Nhưng ngay cả trong giới khoa bảng và giáo sư đại học,có khá nhiều người vẫn chưa biết thế nào là một bài báo khoa học nghiêm chỉnh và có lẽ vì hiểu sai cho nên một số giáo sư đã trình bày trong lí lịch khoa học của mình một cách thiếu chính xác. Nói một cách ngắn gọn,bài báo khoa học (tiếng Anh: “scientific paper” hay có khi viết ngắn làpaper) là một bài báo có nội dung khoa học được công bố trên một tậpsan khoa học (scientific journal) đã qua hệ thống bình duyệt (peer-review) của tập san. Ở đây có ba vế của định nghĩa mà bài này sẽ lần lược bàn đến: nội dung bài báo, tập san, và cơ chế bình duyệt.

Nội dung bài báo khoa học
Giá trị khoa học của một bài báo tùy thuộc một phần lớn vào nội dung của bài báo. Bởi vì báo cáo khoa hoc xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, giá trị của chúng cũng không nhất thiết đồng nhất. Sau đây là một số bài báo khoa học thông thường và tôi xếp loại theo thang giá trị (cao nhất đến thấp nhất).

Những bài báo mang tính cố nghiến nguyên thủy (original contributions), nhằm báo cáo kết quả một công trình nghiên cứu, hay đề ra một phương pháp mới, một ý tưởng mới, hay một cách diễn dịch mới. Có khi một công trình nghiên cứu có thể có nhiều phát hiện mới, và cần phải có nhiều bài báo nguyên thủy để truyền đạt những phát hiện này. Cống hiến mới cho khoa học không chỉ giới hạn trong phát hiện mới, mà có thể bao gồm cả những phương pháp mới để tiếp cận một vấn đề cũ, hay một cách diễn dịch mới cho một phát hiện xa xưa.Do đó các bài báo khoa học ở dạng này cũng có thể xem là những cống hiến nguyên thủy. Tất cả các bài báo này trên nguyên tắc, đều phải thông qua hệ thống bình duyệt trước khi được công bố.
Những bài báonghiên cứu ngắn (short communications), đây là những bài báo rất ngắn(chỉ khoảng 600 đến 1.000 chữ, tùy theo qui định của tập san) mà nộidung chủ yếu tập trung giải quyết một vấn đề rất hẹp hay báo cáo mộtphát hiện nhỏ nhưng quan trọng. Những bài báo này vẫn phải qua hệ thống bình duyệt nghiêm chỉnh, nhưng mức độ rà soát không cao như các bài báocống hiến nguyên thủy. Cần phải nói thêm ở đây là phần lớn những bài báo công bố trên tập san Nature (một tập san uy tín vào hàng số mộttrong khoa học) là “Letters”, nhưng thực chất đó là những bài báo nguyên thủy có giá trị khoa học rất cao, chứ không phải những lá thư thông thường.

Những bài điểm báo (reviews). Có khi các tác giả có uy tín trong chuyên môn được mời viết điểm báo cho một tập san, thường tập trung vào một chủ đề hẹp nào đó mà tác giả phải đọc tất cả những bài báo liên quan, tóm lược lại, và bàn qua về những điểm chính cũng như đề ra một số đường hướng nghiên cứu cho chuyên ngành. Những bài điểm báo thường không qua hệ thống bình duyệt, hay có qua bình duyệt nhưng không chặt chẽ như những bài báo khoa học nguyên bản.

Những bài xã luận (editorials). Có khi tập san công bố một bài báo nguyên thủy quan trọng với một phát hiện có ý nghĩa lớn, ban biên tập có thểmời một chuyên gia viết bình luận về phát hiện đó.

Những thư cho tòa soạn (letters to the editor). Nhiều tập san khoa học dành hẳn một mục cho bạn đọc phản hồi những bài báo đã đăng trên tập san. Đây lànhững bài viết rất ngắn (chỉ 300 đến 500 chữ, hay một trang-tùy theoqui định của tập san) của bạn đọc phê bình hay chỉ ra một sai lầm nàođó trong bài báo khoa học đã đăng. Những thư bạn đọc thường được gửi cho tác giả bài báo để họ đáp lời hay bàn thêm. Và sau cùng là những bài báo trong các kỉ yếu hội nghị. Trong các hội nghị chuyên ngành, các nhà nghiên cứu tham dự hội nghị và muốn trình bày kết quả nghiên cứu của mình thường gửi bài báo để đăng vào kỉ yếu của hội nghị. Có hai loại bài báo trong nhóm này: Nhóm 1 gồm những bài báo ngắn (proceedingspapers) thực chất là những bản tin khoa học ngắn (chỉ dài từ 250 chữđến 500 chữ) mà nội dung là tóm tắt một công trình nghiên cứu. Nhóm 2 gồm những bản tóm lược (abstracts), (khoảng 5 đến 10 trang), mà nộidung chủ yếu là báo cáo sơ bộ những phát hiện hay phương pháp nghiêncứu mới. Cần nhấn mạnh rằng đây không phải là những bài báo khoa học bởi vì chúng chưa xuất hiện trên các tập san khoa học và qua bình duyệt nghiêm chỉnh. Phần lớn, nếu không muốn nói là 100%,các bài tóm lược đều được chấp nhận cho in trong các kĩ yếu của hội nghị vì ban tổ chức muốn có nhiều người dự hội nghị (cũng có nghĩa là tăng thu nhập cho ban tổ chức) cho nên họ không muốn từ chối một bài báo nào.

Tập san khoa học và hệ số ảnh hưởng
Giá trị khoa học của một bài báo không chỉ tùy thuộc vào nội dung, mà tập san công bố cũng đóng một vai trò quan trọng. Chẳng hạn như trong y học một bài báo trên các tập san lớn như New England Journal of Medicine (NEJM) hay Lancet có giá trị hơn hẳn một bài báo trên các tập san y học của Pháp hay Singapore Medical Journal. Điều này đúng bởi vì những công trình nghiên cứu quan trọng thường được công bố trên các tập san lớn và có nhiều người đọc, nhưng quan trọng hơn hết là những tập san này có một hệ thống bình duyệt nghiêm túc.

Uy tín và giá trị của một tập san thường được đánh giá qua hệ số ảnh hưởng (Impact Factor hay IF). IF được tính toán dựa vào số lượng bài báo công bố và tổng số lần những bài báo đó được tham khảo hay trích dẫn (citations). Theo định nghĩa hiện hành, IF của một tập san trong năm là số lần tham khảo trung bình các bài báo được công bố trên tập san trong vòng 2 năm trước. Chẳng hạn như trong 2 năm 1981 và 1982, Tập san Lancet công bố 470 bài báo khoa học nguyên thủy; trong năm 1983 có 10.011 bài báo khác trên các tất cả các tập san (kể cả Lancet) có tham khảo hay trích dẫn đến 470 bài báo đó; và hệ số IF là 10.011/470 = 21,3. Nói cách khác, tính trung bình mỗi bài báo nguyên thủy trên tờ Lancet có khoảng 21 lần được tham khảo đến hay trích dẫn. Vì yếu tố thời gian của việc tính toán, cho nên hệ số IF cũng thay đổi theo thời gian và cách xếp hạng tập san cũng thay đổi theo. Chẳng hạn như vào thập niên 1990s British Medical Journal từng nằm trong nhóm các tập san hàng đầu trong y học, nhưng đến đầu thế kỉ 21 tập san này bị xuống cấp nghiêm trọng. Do đó, tập san nào có hệ số IF cao cũng được hiểu ngầm là có uy tín cao và ảnh hưởng cao. Công bố một bài báo trên tập san có hệ số IF cao có thể đồng nghĩa với mức độ quan trọng và tầm ảnh hưởng của bài báo cũng cao. Xin nhấn mạnh là “có thể” mà thôi, bởi vì qua cách tính vừa trình bày trên, IF là chỉ số phản ánh ảnh hưởng của một tập san, chứ không đo lường hệ số ảnh hưởng của một bài báo cụ thể nào. Một bài báo trên một tập san có hệ số IF thấp nhưng có thể được trích dẫn nhiều lần. Chẳng hạn như một bài báo viết về một phương pháp phân tích thống kế trong di truyền học công bố trên tập san Behavior Genetics (với IF thấp hơn 2), nhưng được trích dẫn và tham khảo hơn 10.000 lần trong 20 năm sau đó!

Khiếm khuyết của hệ số IF đã được nêu lên khá nhiều lần trong quá khứ. Ngay cả người sáng lập ra hệ số IF cũng thú nhận những thiếu sót của hệ số này. Một số bộ môn khoa học có xu hướng (hay truyền thống) công bố ra nhiều bài báo ngắn, hay đơn thuần là họ có truyền thống trích dẫn lẫn nhau, thậm chí tự mình trích dẫn mình! Có nhiều nhà khoa học trích dẫn hay liệt kê những bài báo mà họ hoặc là không hay chưa đọc (nhưng chỉ trích dẫn theo sự trích dẫn của người khác, đây là một vi phạm khoa học). Ngoài ra, những bộ môn nghiên cứu lớn (như y khoa chẳng hạn) có nhiều nhà nghiên cứu và con số bài báo cũng như chỉ số trích dẫn cũng tăng theo. Nói một cách ngắn gọn, con số thống kê bài báo và chỉ số trích dẫn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại vi hơn là chất lượng khoa học. Cũng không loại trừ khả năng những công trình nghiên cứu tồi, sai lầm vẫn được nhiều người nhắc đến và trích dẫn (để làm gương cho người khác). Phần lớn những bài báo được trích dẫn nhiều lần là những bài báo liên quan đến phương pháp, hay thuộc loại điểm báo. Nhiều nghiên cứu “tốt”, có chất lượng thường đi trước thời gian, và người ta chỉ hiểu rõ giá trị của chúng sau nhiều năm sau khi công bố.

Dù bíết rằng hệ số IF có nhiều khiếm khuyết như thế, nhưng hiện nay chúng ta chưa có một hệ thống nào công bằng và tốt hơn để thẩm định chất lượng một tập san. Cho nên, hệ số IF vẫn được sử dụng như là một thước đo chất lượng, với một sự dè dặt và cẩn thận cần thiết.

Cơ chế bình duyệt

Sau khi tác giả gửi bản thảo của bài báo đến một tập san chuyên môn, tổng biên tập hay phó tổng biên tập sẽ xem qua bài báo và quyết định bài báo có xứng đáng được gửi ra ngoài để bình duyệt hay không. Nếu không xứng đáng, tổng biên tập sẽ báo ngay (trong vòng 1 tháng) cho tác giả biết là bài báo không được bình duyệt. Nếu thấy bài báo có giá trị và cần được bình duyệt, tổng biên tập sẽ gửi bản thảo cho 3 (hoặc có khi 4) người bình duyệt.

Những người bình duyệt là những chuyên gia, giáo sư có cùng chuyên môn với tác giả và am hiểu về vấn đề mà bài báo quan tâm. Tác giả sẽ không biết những người này là ai, nhưng những người bình duyệt thì biết tác giả là ai vì họ có toàn bộ bản thảo! Những người bình duyệt sẽ xem xét toàn bộ bài báo, và viết báo cáo đề nghị tổng biên tập nên chấp nhận hay từ chối đăng bài báo. Tuy quyết định cuối cùng là của tổng biên tập, nhưng thông thường chỉ một người bình duyệt đề nghị từ chối bài báo thì số phận bài báo coi như “đã rồi”. Giai đoạn này tốn khoảng 1 đến 4 tháng.


Tùy theo đề nghị của những người bình duyệt, tổng biên tập có thể cho tác giả một cơ hội để phản hồi những phê bình của người bình duyệt, hay từ chối đăng bài. Nếu có cơ hội phản hồi, tác giả phải trả lời từng phê bình một của từng người bình duyệt. Bài phản hồi phải được viết như một báo cáo, và tất cả những thay đổi trong bài báo tác giả phải báo cho tập san biết. Giai đoạn này tốn từ 1 đến 3 tháng. Nếu bài phản hồi không trả lời tất cả phê bình, hay trả lời không thỏa đáng, tổng biên tập có thể từ chối đăng bài ngay mà không cần gửi cho người bình duyệt xem lại. Nếu bài phản hồi cần xem xét lại tổng biên tập sẽ gửi cho những người bình duyệt xem lại một lần nữa và tác giả có khi phải phản hồi một lần sau cùng. Giai đoạn này cũng tốn từ 1 đến 3 tháng.

Nói chung một bài báo từ lúc nộp bài cho đến lúc xuất hiện trên mặt giấy – nếu mọi bình duyệt và phản hồi đều trôi chảy – tốn khoảng 9 tháng đến 12 tháng. Bởi vì thời gian quá lâu như thế, cho nên một số tác giả có khi quyết định tự công bố trước dưới dạng sơ bộ (còn gọi là “pre-print”) để chia sẻ với đồng nghiệp.

Cơ chế bình duyệt có mục đích chính là đánh giá và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố trên một tạp chí khoa học và còn được ứng dụng trong việc duyệt những đơn xin tài trợ cho nghiên cứu. Trên nguyên tắc, đây là một cơ chế hay và công bằng, bởi vì những người duyệt bài hay công trình nghiên cứu là những người có cùng chuyên môn, họ chính là những người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu. Nhưng nhà khoa học cũng chỉ là những người có tình cảm và thiên kiến, cũng là những người chịu sự chi phối của các nhu cầu tất yếu, cũng cạnh tranh, cho nên kết quả duyệt bài khoa học không phải lúc nào cũng hoàn toàn khách quan. Rất nhiều người từng trải qua cái cơ chế này cho rằng đó là một hệ thống không hoàn chỉnh và có khi thiếu công bằng.

Ý nghĩa xã hội của bài báo khoa học

Đọc đến đây, tôi hi vọng bạn đọc đã hiểu được thế nào là một bài báo khoa học. Xin nhắc lại để nhấn mạnh: một bài báo chỉ khi nào được xem là “bài báo khoa học” nếu nó đã qua cơ chế bình duyệt và được công bố trên một tập san chuyên môn. Những bài báo xuất hiện dưới dạng “abstracts” hay thậm chí “proceedings” không thể xem là những bài báo khoa học bởi vì nó không đáp ứng được hai yêu cầu trên. Thế nhưng trong thực tế đã có rất nhiều nhà khoa học, kể cả ở trong nước, có lẽ do hiểu lầm đã liệt kê những “abstracts” và “proceedings” như là những bài báo khoa học trong lí lịch khoa học của họ! Đối với nhiều người không am hiểu hoạt động khoa học thì những ngộ nhận này chẳng ảnh hưởng gì to lớn, nhưng đối với giới làm nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh, một lí lịch khoa học với toàn những “bài báo khoa học” như thế cho biết nhiều về tác giả hơn là khả năng nghiên cứu khoa học của tác giả.

Trên bình diện quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước nhà. Ở phương Tây người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án. Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án tiến sĩ hay thạc sĩ, nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn.

Để xét đề bạt giáo sư trong các đại học Tây phương, ngoài các tiêu chuẩn về giảng dạy, tài trợ nghiên cứu và phục vụ xã hội, một tiêu chuẩn quan trọng số một là số lượng và chất lượng bài báo khoa học của ứng viên. Theo một qui định gần như “bất thành văn”, muốn được đề bạt lên “assistant professor” (giáo sư dự khuyết) ứng viên phải có từ 3-5 bài báo khoa học; một associate professor (phó giáo sư) phải có từ 30 bài báo khoa học trở lên; và một professor (giáo sư) phải có từ 50 bài báo trở lên. Đây chỉ là những tiêu chuẩn rất chung chung và có thể nói là tối thiểu. Cố nhiên, các tiêu chuẩn này còn tùy thuộc vào trường đại học và chuyên môn, cho nên không ai có thể đưa ra một qui định chính xác được.

Phần 2 : Trình bày bài báo khoa học

Phần lớn các tạp chí khoa học ở Mỹ đều áp dụng một dạng thức chuẩn (standard format) cho các bài báo khoa học (scientific papers) thuộc loại cống hiến nguyên thuỷ (original contributions) bao gồm những mục sau, mỗi mục đều có chủ đích nhất định:

1. Tựa bài (Title): Tựa bài thường từ 10 –15 từ (có tạp chí còn rút ngắn xuống dưới 10 từ), phản ánh nội dung chính của bài viết. Một tựa bài tốt không phải nhằm mục đích lôi cuốn hấp dẫn độc giả mà là đề cập thẳng vấn đề muốn giải quyết và dùng những từ chủ yếu (keywords) để những ai nghiên cứu trong cùng một lĩnh vực có thể nhận biết được. Sau tựa bài là tên tác giả, có tạp chí ghi chú chức danh, học hàm học vị, có tạp chí không nhưng cho biết nơi làm việc, địa chỉ email và còn ghi tên người biên tập, ngày nhận bài và ngày chấp thuận đăng (tạp chí PNAS – Proceedings of the National Academy of Sciences).

2. Tóm tắt (Summary or Abstract): Mục đích của phần tóm tắt là giúp độc giả nhận biết bài viết có phù hợp với đề tài mình họ đang quan tâm không. Phần này tóm tắt ngắn gọn (từ 100 đến 200 từ) mục đích của bài viết, dữ liệu trình bày và kết luận chính của tác giả. Có tạp chí (Nature và Science) xem phần này như lời giới thiệu ngắn (brief introduction) về bài viết.

3. Introduction (Giới thiệu): Trong phần này, tác giả xác định đề tài nghiên cứu, phác thảo mục tiêu nghiên cứu và cung cấp cho độc giả đầy đủ cơ sở khoa học để hiểu biết phần còn lại của bài viết. Cần chú ý giới hạn những kiến thức cơ sở này trong các thử nghiệm của tác giả. Mục này sẽ đạt yêu cầu nếu trả lời được những câu hỏi như: (1) Lý do thực hiện nghiên cứu này? (xuất phát từ hiện tượng tự nhiên hay các tư liệu đã có trước), (2) Những kiến thức nào đã có trước về đề tài này? (tổng kết tư liệu, quá trình phát triển ý tưởng trước đó của các tác giả khác, những khẳng định, mâu thuẫn, và khác biệt giữa các tài liệu đã có về đề tài này), (3) Mục đích chính của nghiên cứu là gì?

4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu (Materials and Methods): Mục này còn được gọi là Experimental details (Dữ liệu thử nghiệm) hay Theoretical basis (Cơ sở lý thuyết). Dữ liệu thu thập được và phương pháp nghiên cứu của tác giả được trình bày ở đây. Mục này khó viết nhất ở chỗ cung cấp vừa đủ chi tiết để hiểu được thử nghiệm nghiên cứu nhưng không làm rối trí độc giả. Nhìn chung, tác giả sẽ phải trả lời những câu hỏi sau: (1) Dữ liệu nào đã sử dụng? (2) Chúng được sử dụng như thế nào? (3) Địa điểm và thời gian hoàn thành thử nghiệm?

5. Kết quả (Results): Mục này tóm tắt những kết quả thử nghiệm và không đề cập đến ý nghĩa của chúng. Dữ liệu được trình bày theo bảng biểu, đồ thị hình vẽ, hình ảnh v.v…Những dữ liệu đã ghi theo bảng không nên trình bày lại theo hình vẽ hay biểu đồ. Những số liệu và bảng biểu tự chúng đã trình bày đầy đủ thông tin mà không cần phải giải thích thêm bằng lời. Mục này nên tập trung vào những xu hướng và khác biệt chính chứ đừng sa vào những chi tiết nhỏ nhặt.

6. Diễn giải và Phân tích kết quả (Discussion): Mục này nhằm: (1) Diễn giải phân tích kết quả, những ưu điểm và hạn chế, tách bạch rõ ràng dữ liệu và suy luận, (2) Mối liên hệ giữa kết quả nghiên cứu của tác giả với những phát hiện khác trong các nghiên cứu trước đó. Điều này cho thấy đóng góp của tác giả bổ sung cho lý thuyết và kiến thức, hay điều chỉnh những sai sót của các đề tài nghiên cứu trước đó. Tất nhiên, người viết phải có những lý lẽ thật lôgích cho những thử nghiệm và suy luận của mình và cũng có thể đề nghị tiếp tục những thử nghiệm trong tương lai để làm sáng tỏ những vấn đề còn bỏ ngỏ trong kết quả của mình.

7. Phần cảm ơn (Acknowledgements) hay Tài liệu tham khảo (Reference): Người viết cảm ơn những người đã cộng tác nghiên cứu với mình và liệt kê tất cả tài liệu đã trích dẫn trong bài viết. Cách trình bày theo thứ tự, tên tác giả, tác phẩm, năm tháng, nơi xuất bản v.v.. có thể khác nhau giữa các tạp chí (trước sau, in nghiêng, in đậm v.v..).

Phần lớn các tạp chí khoa học đều theo cách trình bày trên, tuy nhiên cũng có thể khác nhau chút ít như ghép chung các mục Results và Discussion, hoặc xếp mục Materials and Methods sau mục Discussion. Đối với những tạp chí có đối tượng bạn đọc rộng rãi như Science và Nature thì các bài viết khoa học được rút gọn tối đa vì phải dành trang cho những bài viết khác. Những dữ liệu ít quan trọng và phần lớn nội dung trình bày phương pháp và thử nghiệm, độc giả có thể tìm hiểu thêm trên tạp chí trực tuyến của họ. Cũng có tạp chí không nhất thiết sử dụng đầy đủ tên gọi các tiểu mục như trên tuy nội dung vẫn như vậy, như họ không đặt tiểu mục là Tóm tắt, hay Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu, Kết quả, Diễn giải và Phân tích …Ví dụ như bài Evaluating Living Wage Laws in the United States: Good Intentions and Economic Reality in Conflict? đăng trong Economic Development Quaterly (2.2005) có nội dung như sau: What Is a Living Wage? Quantifying the Concepts Measuring Poverty, Thresholds Regional Living Costs, Estimating Costs of Living Wage Ordinances, Data Sources, Wage and Benefit Increases, Cost Estimates, Alternative Adjustments for Covered Firms, Contractors - Only Ordinances, Adjustments under Areawide Ordinances, Labor Substitution, Conclusions, Notes, References (không đánh số La Mã); bài Estimation with Price and Output Uncertainty đăng trên Journal of Applied Economics (12.2005) với nội dung I. Introduction, II. Additive output uncertainty, III. Multiplicative output certainty, IV. Empirical exercise, V. Results & Conclusing và References, hay bài Employment Generation for the Rural Poor in Asia:
Perspectives, Patterns, and Policies đăng trên Asian Development Review (1.2006) với I. Introduction, II. Models of Rural Development, III. Rural Employment: the Evidence , IV. Other Stylized Patterns In Rural Employment, V. Policies for Employment Generation, VI.Concluding Remarks và References.

nguồn VSAK

Lê Trường (sưu tầm)
read more "Phương Pháp trình bày một bài báo khoa hoc"
2

Quạt không cánh và Trục quay

Một nhà sáng chế tại Anh vừa công bố một loại quạt không cánh và trục quay nhưng vẫn tạo ra làn gió mạnh như quạt thường.

Daily Mail cho biết, Dyson Air Multiplier, tên của quạt, là phát minh của James Dyson. Nhà khoa học này từng nổi tiếng nhờ chế tạo máy hút bụi không túi đựng trong thập niên 90.

Dyson, đã được Nữ hoàng Anh phong tước hiệp sĩ, cho biết ông nảy ra ý tưởng chế tạo quạt không cánh khi nghiên cứu máy làm khô tay từ 4 năm trước. Thiết bị này đẩy không khí qua một khe nhỏ để "quét" nước ra khỏi tay ướt.

"Tôi nhận thấy máy làm khô tay hút rất nhiều không khí trong môi trường xung quanh, vì thế tôi nghĩ đến việc tận dụng hiệu ứng đó để chế tạo quạt không có trục quay và cánh. Quá trình nghiên cứu diễn ra trong ba năm và sau đó tôi thử nghiệm quạt trong một năm", nhà phát minh 62 tuổi nói.

Trong buổi giới thiệu Dyson Air Multiplier vào ngày 12/10, Dyson cho biết, Dyson Air Multiplier có một động cơ điện 40 W. Không khí bị động cơ hút vào những lỗ nhỏ dưới đế quạt và di chuyển dọc theo khung lõm hình tròn. Khi bị đẩy qua khe rộng 1,3 mm nằm dọc theo khung, lượng không khí tăng lên 15 lần và tốc độ di chuyển có thể đạt 35,2 km/h. Gió của Dyson Air Multiplier êm và liên tục hơn so với gió của quạt thường.

"Lượng gió mà Dyson Air Multiplier tạo ra không lớn hơn các loại quạt khác, song chắc chắn nó đứng đầu về chất lượng gió. Do không có cánh và trục quay nên nó không thể gây ồn", ông tuyên bố.

Theo Daily Mail, do Dyson Air Multiplier không có cánh nên những đứa trẻ tò mò sẽ không bị tổn thương ngón tay khi sờ quạt. Ngoài ra người sử dụng sẽ không phải mất thời gian để lau chùi cánh mỗi khi chúng bị phủ kín bởi bụi như quạt thường.

Dyson Air Multiplier có thể xoay 90 độ theo phương ngang như quạt điện truyền thống. Ngoài ra nó còn có một nút kiểm soát tốc độ không khí. Sản phẩm có hai phiên bản (tương ứng với hai kích cỡ khác nhau) và được bán vào năm sau với giá xấp xỉ 280 USD.

Xem nguyên lý hoạt động của quạt ở đây: http://www.dyson.com/technology/airmultiplier.asp#HowItWorks

Lê Trường (sưu tầm)
Nguồn http://www.vnexpress.net/
read more "Quạt không cánh và Trục quay"